Tài liệu ôn tập Ngữ văn 8 - Đợt 1

doc 61 trang ducvinh 27/11/2025 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu ôn tập Ngữ văn 8 - Đợt 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập Ngữ văn 8 - Đợt 1

Tài liệu ôn tập Ngữ văn 8 - Đợt 1
 MỘT SỐ CĂN DẶN VỚI HỌC SINH VÀ PHỤ HUYNH
* ĐỐI VỚI HỌC SINH
1/ Phần nội dung bài học các em chép vào tập ghi trên lớp còn phần bài tập củng cố 
hoặc bài tập bổ sung các em làm vào vở bài tầp.
2/ Khi học bài các em cần xem và đọc nội dung bài học, câu hỏi trong SGK.
3/ Hàng ngày các em đều phải học ít nhất là 1 bài mới và làm bài tập đầy đủ. Nếu có 
thắc mắc, không hiểu bài các em có thể liên hệ với giáo viên bộ môn để nhờ giải đáp.
4/ Đề cương các em phải bảo quản cẩn thận để khi đi học lại sử dụng ôn thi cuối năm.
* ĐỐI VỚI PHỤ HUYNH
1/ Phụ huynh cấn phối hợp chặt chẽ với nhà trường, GVCN, GVBM để báo cáo tình hình 
học tập và làm bài của các em.
2/ Phụ huynh thường xuyên nhắc nhở các em học bài , làm bài tập và chép bài đầy đử.
3/ Mõi thắc mắc về bài học phụ huynh liên hệ ngay với GVBM hoặc GVCN để đc hỗ trợ. - Cần bổ sung: không chỉ rèn đạo đức mà còn rèn năng lực trí tuệ.
2. Phê phán những lệch lạc sai trái trong việc học:
- Không chú ý đến nội dung, học vì danh lợi của bản thân
- Tác hại: Đảo lộn giá trị con người, không còn có người tài, đức, dẫn đất nước đến thảm 
họa.
3. Khẳng định quan điểm và phương pháp đúng đắn trong học tập:
- Việc học phải được phổ biến rộng khắp: mở thêm trường, mở rộng thành phần người 
học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học.
- Việc học phải bắt đầu bằng những kiến thức cơ bản, có tác dụng nền tảng.
- Phương pháp học tập tuần tự tiến lên, từ thấp lên cao, học rộng nghĩ sâu, biết tóm lược 
những điều cơ bản nhất, cốt yếu nhất, kết hợp học với hành.
4. Tác dụng của việc học chân chính:
- Đất nước nhiều nhân tài.
- Giữ vững đạo đức.
- Chế độ vững mạnh.
- Quốc gia hưng thịnh. 
III. Tổng kết:
1. Nghệ thuật : 
- Lập luận chặt chẽ.
- Bố cục rõ ràng
- Các luận điểm cùng hướng về nội dung chủ đề.
- Có sự liên hệ chặt chẽ giữa luận điểm và luận cứ.
2. Nội dung
- Mục đích và tác dụng của việc học chân chính là: Học để làm người, học để góp phần h-
ưng thịnh đất nước. Muốn học tốt phải có phương pháp, học phải đi đôi với hành.
- Đúng là người thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu.
- Là người trí thức yêu nước, quan tâm đến nước từ việc học. - Cười dài trong tiếng khóc;
- Cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng;
- Cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng;
-> Hồng phải kìm nén sự bất bình vì Hồng là người thuộc vai dưới.
=> Vị trí giao tiếp của người cô và bé Hồng trong cuộc thoại gọi là vai xã hội
2. Kết luận(Ghi nhớ SGK Tr. 94)
II. Lượt lời trong hội thoại
1. Xét ví dụ (sgk/102)
- Bà cô nói 6 lượt.
- Hồng nói hai lượt, còn lại là im lặng
+ Bốn lần : - Cúi đầu không đáp.
 - Tôi lại im lặng.
 - Tôi cười dài trong tiếng khóc.
 - Khóc không ra tiếng.
-> Thái độ của Hồng: Rất bất bình với cô, nhưng Hồng không ngắt lời cô. 
-> Đó là biểu hiện đức tính biết nhường nhịn, lịch sự của Hồng trong giao tiếp vì Hồng 
đang ở vai dưới trong cuộc thoại.
2. Ghi nhớ (SGK / 102)
III. Luyện tập
Bài tập 1(sgk/94)
- Đoạn: các ngươi... có được không?
- Trần Quốc Tuấn đứng ở hai vai - hai mối quan hệ: Chủ tướng và của những người cùng 
cảnh ngộ.
+ Quan hệ thứ nhất: Ông ở vai trên thẳng thắn, nghiêm khắc.
+ Quan hệ thứ hai: Ông ở vai ngang hàng lời lẽ thấm thía. - Trong trường hợp phải giữ bí mật, hoặc thể hiện sự tôn trọng người đối thoại.
- Trong trường hợp phải phát biểu chính kiến để ủng hộ cái đúng, phê phán cái sai.
Bài tập 3+4(sgk/109) HS tự làm vào trong vở BT.
B. BÀI TẬP CỦNG CỐ.
Bài tập : Viết một đoạn văn bàn về vấn đề học tập với bạn. Trong đó chỉ rõ vai xã hội 
được sử dụng.
 &&&&&&&&&&&&&&&&&&&&
 VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 6
 (Khi đi học lại sẽ viết)
Đề 1: Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai 
trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận 
mệnh đất nước.
Đề 2: Từ bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ 
về mối quan hệ giữa “học” và “hành”.
Đề 3: Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới 
là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?
 DÀN Ý LÀM BÀI
Đề bài 1: Dựa vào văn bản chiếu dời đô và hịch tướng sĩ hãy nêu suy nghĩ của em về 
vai trò của người lãnh đạo anh minh như Trần Quốc Tuấn và Lý Công Uẩn
1. Mở bài
- Trong bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua bao 
cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và trải qua ba lần dời đô.
- Trong dựng xây đất nước và chống giặc ngoại xâm vai trò của người lãnh đạo anh minh 
vô cùng quan trọng 
- Điều đó chứng minh hùng hồn qua bài; Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ và Hịch tướng sĩ 
của TQT. . Không theo mệnh trời (không hợp với quy luật khách quan)
. Không biết học theo cái đúng của người xưa.
. Hậu quả; triều đại ngắn ngủi, nhân dân khổ sở, vạn vật không được thích nghi, không thể 
phát triển thịnh vượng trong một vùng đất chật chội.
+ Lý Thái Tổ cũng khẳng định: trong đà phát triển của đất nước, việc đóng đô ở Hoa Lư là 
không còn phù hợp nữa.
- Đoạn cuối: Khẳng định thành Đại La mới là nơi tốt nhất để định đô.
+ Về vị trí địa lí: ở nơi trung tâm đất trời, mở ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, có núi lại 
có sông, đất rộng mà phẳng, cao mà thoáng, tránh được nạn lụt lội, chật chội.
+ Về vị thế chính trị, văn hóa: là đầu mối giao lưu “chốn hội tụ của 4 phương”, là mảnh 
đất hưng thịnh, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi.
-> Về tất cả các mặt, Đại La có đủ điều kiện để trở thành kinh đô của đất nước.
*) Bài Hịch tướng sĩ
- Bài hịch giúp ta hiểu được tinh thần yêu nước của tác giả TQT thể hiện qua lòng căm 
thù giặc sâu sắc, quyết chiến, quyêt thắng kẻ thù xâm lược. Nội dung đc thể hiện qua 
những ý sau:
- Đoạn 1: Tác giả nêu những tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí 
lập công danh, xả thân vì nước của các tướng sĩ: Kỉ Tín, Do Vu..
- Đoạn 2: Lôt tả sự ngang ngược và tội ác của kẻ thù đồng thời nói lên lòng căm thù giặc.
- Đoạn 3:+ Nêu mối quan hệ giữa chủ và tướng, phê phán những biểu hiện lệch lạc sai trái 
trong hàng ngũ tướng sĩ.
+ Khẳng định những hành động đúng nên làm để tướng sĩ thấy rõ điều hay lẽ phải.
- Đoạn 4: Tác giả nêu nhiệm vụ cấp bách và khích lệ tinh thần chiến đấu của binh sĩ. - Họ là linh hồn của dân tộc, của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
- Họ là tấm gương sáng về lòng yêu nước.
- Lý Thái Tổ, TQT là những vị anh hùng dân tộc có công đánh giặc cứu nước và dựng xây 
đất nước ngày càng phát triển.
Đề 2: Từ bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy suy nghĩ 
về mối quan hệ giữa học và hành.
1. Mở bài:
- Từ xưa đến nay, việc học luôn được đề cao. Việc học là một quá trình liên tục, lâu dài 
gắn bó với con người trong suốt cuộc đời.
- Nếu chỉ học kiến thức mà không vận dụng kiến thức đó vào trong cuộc sống thì việc học 
đó chẳng mang lại kết quả như ta mong muốn.
- Nguyễn Thiếp là người “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu cao” đã viết bài tấu “ Bàn luận 
về phép học” gửi vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791.
- Đoạn trích bàn về việc học dưới thời phong kiến. Điều chính yếu là bàn về mục đích, tác 
dụng của việc học cũng như phương pháp học.
- Từ bài học của Nguyễn Thiếp chúng ta bàn về mối quan hệ giữa học và hành
2. Thân bài:
a. Giải thích khái niệm:
- Tấu là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, 
đề nghị. Tấu có thể được viết bằng văn vần hoặc văn biền ngẫu .
b. Nội dung đọan trích:
- Đầu tiên tác giả nêu mục đích của việc học chân chính: Học để làm người . Tác giả đã sử 
dụng câu châm ngôn vừa dễ hiểu vừa dễ thuyết phục: “Ngọc không mài không thành đồ 
vât, người không học không biết rõ đạo”. Khái niệm đạo được giải thích ngắn gọn dễ hiểu: 
“đạo là lẽ đối xử hàng ngày giữa mọi người.”
- Tác giả phê phán những biểu hiện lệch lạc sai trái trong việc học. - Ngày nay, vấn đề học đi đôi với hành đã được đề cao, được quan tâm một cách đúng 
mức. Tuy vậy, do hoàn cảnh kinh tế đất nước còn khó khăn nên những máy móc để thực 
hành có khi đã rất cũ kĩ, lạc hậu so với thực tại. Như vậy hành chảng có tác dụng là bao.
- Chúng ta cần phê phán những quan điểm sai lầm;
+ Học mà không thực hành thì con người Việt Nam sẽ trở nên viển vông không thực tế. 
Khi đó sẽ nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện. Những người học chỉ biết sách vở thiếu 
thực tiễn. Từ đó, làm cho xã hội trì trệ, kém phát triển.
+ Nếu hành mà không học thì sẽ thiếu đi kiến thức cơ bản. Mọi thành quả lao động chỉ dựa 
vào kinh nghiệm cá nhân. Nhất định thành công ấy sẽ không bền vững.
3. Kết bài:
- Lời tấu của Nguyễn Thiếp dâng lên nhà vua vẫn còn nguyên giá trị.
- Học đi đôi với hành là một phương châm học tập khoa học và rất quan trọng trong xã hội 
ngày nay.
- Chính vì vậy, ta cần thấy được mục đích, tác dụng của việc học chân chính: học để làm 
người, học để biết và làm, học để góp phần làm cho đất nước hưng thịnh, đồng thời ta 
cũng thấy được tác hại của lối học ưa chuộng hình thức, cầu danh lợi.
- Bản thân phải biết học đi đôi với hành để thành người có ích cho cộng đồng, cho đất 
nước.
Đề 3: Suy nghĩ về câu nói của M. Go-rơ-ki "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ 
có kiến thức mới là con đường sống"
1) Mở bài.
Giới thiệu câu nói của M. Go-rơ-ki. 
- Kho tàng trí thức của nhân loại được lưu giữ bằng nhiều cách khác nhau mà sách là một 
trong những cách lưu giữ hiệu quả nhất. Sách có sức mạnh vượt thời gian và không gian: 
những cuốn sách viết trên đất sét, trên đá, trên tấm da cừu, trên những tấm thẻ tre... cách 
đây nhiều ngàn năm vẫn đóng góp giá trị vô vùng quý giá vào kho tàng trí thức nhân loại 
ngày nay.
- Có nhiều cách tiếp nhận tri thức nhân loại qua: truyền hình, qua học tập, qua mạng, qua 
bạn bè, thầy cô... nhưng đọc sách là cách tiếp cận hiệu quả nhất.
- M. Go- rơ- ki là nhà văn nổi tiếng của nước Nga. Ông trải qua tuổi thơ đấy bất hạnh. Mồ 
côi cha mẹ nên ông sớm vào đời kiếm sống, làm đủ mọi nghề, tiếp xúc với mọi tầng lớp - Ý kiến của M.G là hoàn toàn đúng ví ông đã chỉ ra được tác dụng to lớn của sách. Tuy 
vậy, muốn đánh giá được tác dụng của sách, phân biệt sách tốt, sách xấu để ta chọn sách 
đọc..
- Sách tốt
+ Là những cuốn sách phản ánh đúng quy luật tự nhiên và đời sống xã hội. Chúng giúp ta 
hiểu rõ số phận của mình để có ý thức và nghĩa vụ đối với cộng đồng. Một cuốn sách tốt 
phải giúp cho mọi người, các dân tộc hiểu nhau hơn, gần gũi nhau hơn. Nó phải ca ngợi sự 
công bằng và tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Sách giúp con người hiểu biết 
đúng đắn về cuộc sống, từ đó giúp chúng ta biết yêu, biết ghét.
+ Sách tốt là sách nuôi dưỡng, khích lệ những khát vọng cao đẹp của con người. Những 
cuốn sách tốt đó không chỉ mở rộng chân trời kiến thức trong mắt ta mà còn cả trong tâm 
hồn. Không chỉ giúp ta tăng sự hiểu biết mà còn tăng cả sức mạnh bản thân.
- Sách xấu
+ Là sách xuyên tạc cuộc sống và con người, đề cao dân tộc này mà bôi nhọ dân tộc khác, 
gây nên nghi ngờ, thù hằn giữa các dân tộc, đề cao bạo lực, chiến tranh.
+ Kích động những thị hiếu thấp hèn, đề cao lối sống bản năng.
* Đọc sách là cách tự bồi dưỡng kiến thức một cách hiệu quả. Đọc sách còn là một thú vui 
tinh thần không thể thiếu. Nếu thiếu đọc sách, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên nhàm 
chán. 
3. Kết bài
- Sách là một thứ thuốc vô cùng công hiệu, nhưng cũng có khi là một thứ thuốc độc vô 
cùng nguy hiểm.
- Mỗi người phải biết lựa chọn sách khi đọc.
- Hàng ngàn năm qua, con người đã sáng tạo ra sách. Nhưng xưa kia, đọc sách chỉ là niềm 
vui , là quyền lợi củ một bộ phận nhỏ tri thức có địa vị trong xã hội thì ngày nay đọc sách 
đã trở thành niềm vui, là quyền lợi của tất cả mọi người. Ta không thể hình dung nếu trên 
thế giới này không có sách thì sẽ như thế nào? Và không có sách thì liệu nhân loại có tồn 
tại?
 &&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&& -> Nhắc lại lời lẽ, hình ảnh đối lập, tương phản của bọn thực dân với dụng ý, giọng điệu 
mỉa mai.
* Số phận của người dân thuộc địa
- Phải đột ngột xa lìa gia đình, quê hương vì mục đích vô nghĩa
- Đem mạng sống đổi lấy vinh dự hão huyền.
- Bị biến thành vật hi sinh cho lợi ích, danh dự của những kẻ cầm quyền.
- Làm kiệt sức trong các xưởng chế tạo vũ khí
- > Số phận vô cùng thảm thương
- > Đưa các tư liệu hiện thực, bình luận dưới dạng hình ảnh ẩn dụ, giọng điệu vừa giễu cợt 
vừa xót xa
3. Chế độ lính tình nguyện
* Hành động của bọn thực dân
- Tiến hành lùng ráp, vây bắt, cưỡng bức người ta phải đi lính
-Thoạt tiên chúng tóm người nghèo, người khoẻ.
- Sau đó đến con nhà giàu, không muốn đi lính thì phải xì tiền ra 
- Sẵn sàng trói, xích, nhốt người ta như súc vật, sẵn sàng đàn áp dã man nếu như có người 
chống đối.
- > Hành động cưỡng bức, bắt lính một cách tàn bạo, dã man
* Phản ứng của người bản xứ:
- Những người không thể trốn thoát thì họ tự huỷ hoại thân mình
-> Tìm mọi cách để trốn thoát. 
=> Những hành động ấy đã lật tẩy bộ mặt lừa bịp của chế độ mộ lính phi nhân
* Lời nói của bọn cầm quyền
- Hứa hẹn ban phẩm hàm cho những lính còn sống, truy tặng cho những người đã hi sinh
- Tuyên bố: “Các bạn đã tấp nập đầu quân, không ngần ngại hiến xương máu của mình...”
-> Tâng bốc, phỉnh nịnh hoàn toàn giả dối
=> Lời nói và hành động hoàn toàn tương phản nhau, bộc lộ rõ thực chất của chế độ 
lính tình nguyện: Là chế độ cưỡng bức, bắt lính một cách dã man, vừa góp phần bộc lộ 
thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả.
- Nghệ thuật lập luận: Dẫn chứng sinh động, giọng văn giễu cợt
4. Kết quả của sự hi sinh:

File đính kèm:

  • doctai_lieu_on_tap_ngu_van_8_dot_1.doc